Cổ vũ ơn gọi Tại sao chúng ta phải cầu nguyện cho ơn gọi? Để giải quyết vấn đề nan giải về tình trạng thiếu thợ gặt, Chúa Giêsu đã ban lệnh truyền cầu nguyện không ngừng lên Thiên Chúa, Chủ của mùa gặt.Thoạt nghe, đây dường như là một phương thế khó hiểu: bởi lẽ Chủ mùa gặt là chính Thiên Chúa; thợ gặt thuộc về Ngài; và Ngài hoàn toàn có quyền cũng như đủ khả năng để bảo đảm rằng mùa gặt — với số lượng và tính cấp bách mà Ngài biết rõ — sẽ không bị bỏ lỡ. Thế nhưng, Chúa Giêsu vẫn truyền lệnh phải cầu nguyện. “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về.” ( Mt 9, 37- 38 ). Cha Hannibal, thầy dạy và mẫu gương về cầu nguyện, người được Thiên Chúa chọn để mặc khải “lời cầu nguyện đặc biệt” do Chúa Giêsu truyền ban, đưa ra một loạt câu trả lời cho thắc mắc: “tại sao bí ẩn”. 1. Vì đó là Thánh Ý của Thiên Chúa. Cha Tusino viết: Cha nêu lên một khó khăn: nhưng nếu mùa gặt là của Thiên Chúa — “in messem suam” — thì tại sao chúng ta lại phải cầu nguyện để có thợ gặt? Và chính ngài tự trả lời: “Tất cả những gì Thiên Chúa muốn thực hiện cho ơn cứu độ của chúng ta, Người đã ấn định rằng: chúng phải được thực hiện qua lời cầu nguyện của chúng ta; và do một mầu nhiệm khôn tả, Thánh ý toàn năng của Thiên Chúa, để hoàn tất, cần đến sự cộng tác từ ý chí mỏng giòn của con người trong trật tự ân sủng. Chính Thiên Chúa cũng không thể thu hoạch mùa gặt các linh hồn, nghĩa là Người không thể cứu rỗi họ, nếu họ không cầu nguyện, nếu họ không muốn cầu nguyện.” Lý do đầu tiên, theo cha thánh Hannibal, nằm ở chỗ Thiên Chúa đã xác định rằng để có những người thợ gặt tốt lành, Ngài muốn sự cộng tác của chúng ta, điều mà Ngài đã bày tỏ thông qua mệnh lệnh: “Rogate” - “Cầu nguyện cho ơn gọi”. 2. Vì lợi ích hoàn toàn thuộc về chúng ta Hơn nữa, cần phải cầu nguyện với Chủ mùa gặt, bởi vì khi Người sai thợ gặt vào cánh đồng của Người và họ thu hoạch được một mùa gặt bội thu, thì điều đó không mang lại lợi ích cho chính Thiên Chúa. Lợi ích ấy hoàn toàn thuộc về chúng ta, nghĩa là ơn cứu độ của con người, điều mà chúng ta phải xin và phải cổ võ cho nhau bằng lời cầu nguyện dâng lên Thiên Chúa (AP, tr. 126). Dựa trên chân lý đức tin, rằng mọi người đều là con cái của Thiên Chúa (x. Gl 4,5), thánh Hannibal muốn cho chúng ta hiểu rằng: nếu Chủ mùa gặt là Thiên Chúa, và Thiên Chúa là Cha của chúng ta, thì theo một nghĩa nào đó, mùa gặt ấy cũng là của chúng ta, vì chúng ta là con cái của Người. Thật vậy, con cái thì được chia sẻ những mối quan tâm và kho tàng của Cha mình. Hơn nữa, nếu mùa gặt tượng trưng cho đám đông nhân loại, thì mỗi người đều là anh chị em của chúng ta; và chính vì chúng ta là con cái của cùng một Cha, nên tất cả chúng ta đều phải quan tâm và cộng tác cho ơn cứu độ của mọi người. Thánh Gioan nhắc cho chúng ta gương mẫu của Đức Kitô, Đấng vì yêu thương nhân loại, vì yêu thương anh chị em mình, đã dâng lên Chúa Cha không chỉ là lời cầu nguyện bằng lời nói, nhưng là một lời cầu nguyện hiện thực: đó là hy tế của chính mạng sống Người. Vì thế, lời cầu nguyện của chúng ta cũng phải là lời cầu nguyện Phục Sinh. Người đã hiến mạng sống mình vì chúng ta, và chúng ta cũng phải hiến mạng sống mình vì anh chị em (1 Ga 3,16). Chúng ta phải noi gương Thánh Phaolô, người đã làm chứng cho đức tin của mình vào tình yêu vô vị lợi và mang tính cá vị của Đức Giêsu, qua những lời đầy xúc động sau đây: "Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi" (Gl 2,20). 3. Chúng ta phải vâng phục vì đây là một mệnh lệnh Rogate không phải là một lời khuyên, cũng không phải là một lời mời gọi hay một lời khích lệ, nhưng là một mệnh lệnh dứt khoát, một mệnh lệnh có cùng giá trị như lời: “Vậy các con hãy đi giảng dạy muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần” (Mt 28,19). Lời này của Đức Giêsu Kitô là mệnh lệnh phát xuất từ lòng thương xót của Trái Tim cực thánh Người. Đó là một lời nói và một mệnh lệnh có tầm quan trọng tối cao, thậm chí là một phương thế chắc chắn cho ơn cứu độ của Giáo Hội và của xã hội (Scritti, quyển 2, tr. 307). Khi người cầu nguyện ý thức được giá trị cứu độ khách quan của Rogate, họ cảm thấy bản thân mình được trực tiếp lôi cuốn và nhận ra trong lương tâm một trách nhiệm đồng hành không thể né tránh. Hơn nữa, họ hiểu rằng việc vâng phục mệnh lệnh của Chúa không phải là một áp đặt từ bên ngoài, nhưng là một nhu cầu nội tâm, một đòi hỏi của Thần Khí, khiến họ không thể không diễn tả điều ấy bằng tất cả sức lực và khả năng của mình. Đối với Cha Hannibal, sự vâng phục Rogate là một ngọn lửa thiêu đốt trong xương cốt ngài: “Có lẽ tôi hơi quá say mê với suy nghĩ này. Nhưng đức cha biết rằng mối quan tâm lớn lao này của Thánh Tâm cực trọng Đức Giêsu, tức là việc có được những thợ gặt Tin Mừng tốt lành cho cánh đồng nhiệm mầu, chính là cơn say và nỗi thao thức của trái tim khốn khổ nhất của tôi, và đó chính là sứ mạng Thiên Chúa trao phó cho những Hội dòng bé nhỏ nhất của tôi.”(Thư gửi Đức ông N. Zimarino, Giám mục Gravina–Trani, ngày 11.10.1910, Scritti, quyển 58, tr. 139) Cha Hannibal có thể diễn tả những tâm tình sâu xa ấy của linh hồn mình, bởi vì ngài thực sự đón nhận tình yêu cá vị của Thiên Chúa dành cho con người: Caritas Christi urget nos – Tình yêu của Đức Kitô thúc bách chúng ta (2 Cr 5,14). 4 Sự vâng phục đối với Rogate thúc đẩy, củng cố và nâng đỡ ơn gọi Thánh Hannibal của chúng ta viết: Nếu lời cầu nguyện này, với những công thức đặc thù của nó, thấm nhập vào các chủng viện, hàng giáo sĩ và các chủng sinh đang đọc kinh ấy, thì họ sẽ có một quy luật để noi theo nhằm bền đỗ trong ơn gọi của mình, và biết phải cư xử thế nào để đạt tới ơn gọi ấy; hơn nữa, chính lời cầu nguyện của họ trước hết sẽ có tác động nơi bản thân họ. Thiên Chúa nhân lành hoặc sẽ ban, hoặc sẽ gia tăng trong tâm hồn non trẻ của họ một ơn gọi mạnh mẽ và hiệu quả. Chỉ một mình Người mới có thể làm cho họ trở nên những linh mục được tuyển chọn và những thợ gặt thánh thiện trong cánh đồng bao la của Hội Thánh thánh thiện (Scritti, quyển 50, tr. 109). Những giáo sĩ đọc các lời kinh này hằng ngày, nhờ đó lôi kéo lòng thương xót của Thiên Chúa cho hoa trái sứ vụ của mình, sẽ ngày càng thấm nhuần ý nghĩa và sứ mạng của chức linh mục, và tìm thấy trong các lời kinh ấy quy luật hướng dẫn đời sống để thánh hóa chính mình. Họ trở nên những thợ gặt Tin Mừng tốt lành vì vinh quang Thiên Chúa và phần rỗi các linh hồn (PPA 1901, trong Scritti, quyển 61, tr. 176). Ai có ơn gọi linh mục hay đời sống thánh hiến, khi cầu nguyện lời kinh Rogate, họ sẽ cảm nhận rằng mình không thể thoát khỏi những thúc đẩy của Thần Khí, Đấng sẽ gieo vào tâm hồn họ ước muốn và lòng nhiệt thành để sẵn sàng cho kế hoạch cứu độ và đáp lại tiếng gọi của Chúa. Người ấy sẽ lãnh nhận ân sủng của sự sẵn sàng hoàn toàn, như ngôn sứ Isaia: “Ta sẽ sai ai đi? Ai sẽ đi cho chúng ta?” Bấy giờ tôi thưa: “Này con đây, xin hãy sai con” (Is 6,8). Người ấy sẽ để cho Lời Thiên Chúa hướng dẫn mình với lòng hăng say, như Samuel đã thưa: “Xin hãy phán, vì tôi tớ Chúa đang lắng nghe” (1 Sm 3,10); hoặc như Đức Maria: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần truyền” (Lc 1,38). Thánh Tôma Aquinô đã định nghĩa rất chính xác về cầu nguyện như sau: Oratio est quaedam explicatio nostrae voluntatis apud Deum ut eam impleat. (Cầu nguyện là việc mở bày ý muốn của chúng ta trước mặt Thiên Chúa để Người thực hiện điều ấy. – Summa Theologica, Phần III, q.21, a.1). 5. Bởi vì chính Đức Giêsu đã cầu nguyện Có một lý do khác được thánh Hannibal của chúng ta nhấn mạnh: đó là gương mẫu của chính Đức Giêsu Kitô, Đấng dạy điều mà trước hết chính Người đã thực hành: Về Chúa chúng ta, Kinh Thánh nói: “cúpit facere et docere – Người bắt đầu làm rồi mới dạy” (Cv 1,1). Vì thế, khi Người truyền cho các môn đệ phải cầu xin cho những thợ gặt Tin Mừng, điều đó có nghĩa là chính Người đã cầu nguyện cho mục đích thánh thiện ấy. Thật vậy, trước khi kêu gọi các Tông đồ, Người đã cầu nguyện suốt đêm, như Tin Mừng thuật lại (Scritti, quyển 43, tr. 22). “Trong những ngày ấy, Đức Giêsu đi lên núi để cầu nguyện, và suốt đêm Người cầu nguyện cùng Thiên Chúa. Đến sáng, Người gọi các môn đệ lại, và chọn lấy mười hai ông, Người gọi họ là Tông đồ” (Lc 6,12-13). Chỉ trong đoạn Tin Mừng Luca này, Đức Giêsu mới thức trọn đêm để cầu nguyện. Việc tuyển chọn các Tông đồ là một biến cố có tầm quan trọng tuyệt đối, đòi hỏi một đêm kết hợp mật thiết và trọn vẹn với Chúa Cha trên trời, để xin Người sai đến những người mà Người sẽ trao ban cùng một quyền năng và ký thác cùng một sứ mạng cứu độ. Cha Hannibal nhận xét: Chính gương mẫu của Thiên Chúa, Đấng Cứu Chuộc của chúng ta cho thấy lời cầu nguyện này cần thiết đến mức nào. Chính Người đã phải kêu gọi vào chức linh mục thánh những thừa tác viên đầu tiên của luật ân sủng, những người sẽ như hạt giống phì nhiêu đầu tiên của chức linh mục Công giáo: vậy Người đã làm gì? Người đã dùng phương thế nào để hình thành ơn gọi của mười hai ngư phủ ấy? Trước khi tìm đến họ, trước khi mời gọi họ, Người đã rút lui lên núi và cầu nguyện! Người cầu nguyện trên núi, như thể từ đó Người muốn dâng lời khẩn cầu chân thành của mình lên Chúa Cha cách trực tiếp hơn; Người cầu nguyện ban đêm […] kèm theo cum lacrymis et clamore valido – với nước mắt và tiếng khóc lớn (Dt 5,7) […]. Khi vừa xuống núi, còn đẫm nước mắt và mồ hôi, Người liền gọi các Tông đồ theo Người, để làm cho họ trở thành những hoa trái đầu mùa được tuyển chọn của chức linh mục Người. Thật là một bài học cho tất cả chúng ta, để hiểu rằng một ân sủng cao cả như thế phải được cầu xin bằng những lời cầu nguyện đặc biệt! (Scritti, quyển 3, tr. 38). Những biến cố quan trọng trong cuộc đời Đức Giêsu đều được chuẩn bị bằng việc cầu nguyện. Người thường rút lui một mình trong đêm tối và cầu nguyện, nhất là trên núi – nơi lý tưởng để gặp gỡ Thiên Chúa. Cầu nguyện thuộc phạm trù mầu nhiệm. Trong lời cầu nguyện đặc biệt này của Đức Giêsu, mầu nhiệm lại càng trở nên sâu thẳm hơn, bởi vì việc chọn Nhóm Mười Hai được quyết định và hướng dẫn bởi chính Chúa Cha trên trời. Thánh Hannibal nhấn mạnh cách cầu nguyện của Đức Giêsu “cum lacrymis et clamore valido”, “với nước mắt và tiếng khóc lớn.” (Dt 5,7). Lệnh truyền Rogate mà Đức Giêsu truyền dạy – một lời cầu nguyện có hiệu quả đặc biệt cho ơn gọi – phải mang những đặc tính của chính lời cầu nguyện của Đức Giêsu, lời cầu nguyện của hạt lúa mì phải chết đi. Cũng như trong vật lý, sự biến đổi năng lượng điện sinh ra nhiệt trong các máy biến thế, nhờ đó điện năng có thể được truyền đi rất xa, thì lời cầu xin cho Hội Thánh có được các linh mục – những người có khả năng mang ánh sáng đức tin đến tận những chân trời xa nhất – không thể không mang lấy đặc tính của lời cầu nguyện của Đức Kitô: “một lời cầu nguyện đổ máu”. (Trích nguồn trong sách: THE ROGATE Charism of the Rogationists Notes, testimonies, teachings. Tác giả: Linh mục. GAETANO CIRANNI, RCJ, trang 159-165). Ngày 16 tháng 1 Năm 2026 Bài liên quan Làm sao tôi biết mình có ơn gọi đời sống tu trì? Phân Định Ơn Gọi Tôi có ơn gọi không? Ai sẽ muốn trở thành Linh mục và Hội Thánh tìm kiếm người như thế nào? Cái giá của việc làm môn đệ Chúa Giê-su Những người xứng đáng được kêu gọi Lời đáp của người môn đệ trước lời mời gọi của Thầy Giêsu Lý do của tiếng gọi